Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh | Văn mẫu

Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh | Văn mẫu

( Văn mẫu lớp 11)

Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

( bài làm của Nguyễn Khánh Huyền)

Bài làm:

      HCM là nhà cách mạng, là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, là một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ XX, một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Hồ Chí Minh vừa là vị lãnh đạo đáng kính của dân tộc lại vừa là một nhà thơ, nhà văn có những tác phẩm xuất sắc để đời. Phong cách nghệ thuật trong thơ của HCM, về thơ tuyên truyền thường giản dị, mộc mạc, màu sắc thanh đạm, âm thanh trầm lặng, nói ít gợi nhiều,… Thơ nghệ thuật thì thấm đượm phong vị Á Đông. “Chiều tối” là bài thơ thứ 31 của tập “Nhật kí trong tù”, được Hồ Chí Minh sáng tác vào cuối thu năm 1942 trên đường từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.

       Chiều tối là thời khắc cuối cùng của một ngày và với một tù nhân trong hành trình đày ải cũng là chặng cuối của một ngày gian nan khổ ải nơi đất khách quê người. Thời gian và hoàn cảnh như thế dễ gây tâm trạng mệt mỏi, chán chường. Vậy mà ở đây, cảm hứng thơ lại đến với Bác thật tự nhiên.

“Chim mỏi về rừng tìm trốn ngủ”

       Câu thơ không đơn giản chỉ ghi lại cảnh vật mà còn bộc lộ tình cảm của nhà thơ. Làm sao ta có thể biết rõ được chim đang mỏi, làm sao biết rõ mục đích của chim là về rừng tìm trốn ngủ? Như thể ta là chim, ta hóa thân vào chim để hiểu chim vậy. Câu thơ chỉ là tín hiệu cho thấy là trời đã chiều, vạn vật hoạt động ban ngày đều thấm mệt, đã đến lúc tìm chốn nghỉ ngơi.

“Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

        Câu thơ dịch này tuy đẹp nhưng ý thơ có phần nhẹ hơn so với nguyên tắc chữ Hán. Nó bị bỏ mất chữ “cô” trong từ “cô vân”, có nghĩa là chòm mây cô đơn, trơ trọi này rất có ý nghĩa. Hai từ “trôi nhẹ” cũng không lột tả được mấy ý chủa mấy chữ “mạn mạn độ”. Vì “độ” là hoạt động nhằm đi từ bờ này sang bộ kia, còn “mạn mạn” là dáng vẻ trì hoãn, lề mề, chậm chạp. Chòm mây cô đơn đi từ chân trời này sang chân trời kia mà lại còn trì trệ, lề mề thì không biết bao giờ mới tới nơi?  Khi trời tối nó vẫn còn lơ lửng bay trên không chính là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị giải đi trên đường xa vạn dặm, chưa biết được đâu là điểm dừng. Chỉ hai câu thơ mà vừa tả cảnh vật, vừa tả người, tả tình người. Đó chính là cái hàm súc của thơ cổ điển.

         Nếu hai dòng đầu đã nói tới chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn chưa biết điểm dừng thì hai câu thơ sau hiện diện một chốn ngủ của con người:

“Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng.”

       Trong bản dịch, người dịch đưa vào chữ “tối” lộ liễu trong thi pháp thơ cổ chỉ muốn người đọc tự cảm thấy chiều tối phủ xuống mà không cần sự thông báo trực tiếp nào. Điều này làm lộ tứ thơ. Đó là cái khó của người dịch. Điều đáng quan tâm ở đây là một cảnh gia đình rất đỗi bình dị, dân dã: cô em xóm xay núi ngô hạt, ngô hạt xay và bếp đã đỏ hồng. Hình ảnh “cô em” và “bếp lửa” tượng trưng cho cảnh gia đình còn “ngô hạt xay” và “bếp đỏ hồng lại” tượng trưng cho công việc và nghỉ ngơi. Một không khí gia đình vô cùng ấm cúng. Điều đáng chú ý nữa là theo nguyên tác, chữ “hồng” tức là ấm nóng chứ không phải ánh sáng hồng. Bếp lạnh, tro tàn tượng trưng cho sự cô quạnh, lẻ loi. Cái kết này tuy không sáng bừng lên màu hồng lạc quan của cách mạng nhưng nó vẫn ấm áp tình người, làm cho lòng người vơi đi sự cô quạnh, tĩnh mịch. Cùng với hình ảnh đó, ta thấy thấp thoáng ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình.

        Bài thơ kết hợp khá hài hòa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại. Chất cổ điển thể hiện nổi bật ở bút pháp chấm phá trong miêu tả thiên nhiên, cảnh vật, lấy cái có để gợi cái không, tả ít nhưng gợi nhiều, sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ. Trong khi đó, tinh thần thời đại thể hiện ở sự vận động của hình tượng thơ, ở vai trò chủ động của người nghệ sĩ trong mối quan hệ với thiên nhiên.

        “Chiều tối” là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình Hồ Chí Minh. Nhà thơ không trực tiếp bộc lộ cảm nghĩ nội tâm mà biểu hiện thông qua cách cảm nhận hình ảnh, cảnh vật khách quan. Qua bức tranh cảnh vật, ta thấy được những nét đẹp tâm hồn của một nhà thơ – chiến sĩ, thấy được lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống, phong thái ung đung tự chủ về niềm lạc quan, nghị lực kiên ường vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt, tối tăm.

>>> Xem thêm:

Check Also

phân tích nhân vật vợ nhặt trong tác phẩm vợ nhặt

Phân tích tình huống độc đáo trong truyện Vợ nhặt | Làm văn mẫu

( Văn mẫu lớp 12) Đề bài: Em hãy phân tích tình huống truyện độc …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *