Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng | Văn mẫu

Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng | Văn mẫu

( Văn mẫu lớp 12)

Đề bài: Em hãy phân tích hình tượng sóng của Xuân Quỳnh ( bài làm của bạn Nguyễn Khánh Huyền)

Bài làm:

       Xuân Quỳnh ( 1942 – 1988) là một trong số những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh mang vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của tâm hồn đầy trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.Bài thơ được sáng tác năm 1967, khi nhà thơ đi thực tế ở cửa biển Diêm Điền ( Thái Bình) và được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”. Xuân Quỳnh đã xây dựng lên hai hình tượng trong tác phẩm đó là “sóng” và “em”, trong đó, “sóng” là hình tượng bao trùm, xuyên suốt cả bài thơ.

Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng

      Mỗi khổ thơ là một sự phát hiện của Xuân Quỳnh về con sóng ngoài đại dương. Mỗi đặc điểm của sóng là sự tương ứng với một vẻ đẹp tình yêu của người phụ nữ. Xuân Quỳnh khắc họa sóng để ẩn dụ cho tình yêu. Đây là cách làm không mới vì trước Xuân Quỳnh, Xuân Diệu đã từng khắc họa sóng trong bài thơ “Biển” để ẩn dụ cho tình yêu. Tuy nhiên, Xuân Quỳnh vẫn mang đến cho hình tượng sóng một vẻ đẹp mới mẻ vì sóng trong bài thơ “Biển” dữ dội, cuồng nhiệt, si mê, còn sóng trong bài thơ của Xuân Quỳnh dẫu có cái sôi nổi nhưng nó vẫn rất nhẹ nhàng, sâu lắng.

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

       Hai câu đầu khắc họa đặc điểm của sóng, sóng luôn tồn tại trong những trạng thái đối lập, đây là một sự phát hiện vô cùng tinh tế. Tác giả sử dụng cặp từ trái nghĩa để đặt trong một một câu thơ: “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ”. Trong đó, từ “và” được lặp lại và đứng giữa câu thơ nhằm mục đích nhấn mạnh những trạng thái của sóng luôn tồn tại dưới hình thức tiềm ẩn, bởi thế những trạng thái này nó bất chợt không theo quy luật. Những trạng thái đối lập của sóng cũng chính là những cảm xúc của người phụ nữ. Xuân Quỳnh giúp ta nhận ra rằng người phụ nữ khi yêu luôn xuất hiện những trạng thái mâu thuẫn, đối lập nhau, ví dụ như vui, buồn đan xen, yêu thương nhưng lại hay hờn giận, khát khao hạnh phúc nhưng lại rất lo âu. Tình cảm của người phụ nữ khi yêu là rất phức tạp chứ không hề đơn giản. Nhưng chính sự phức tạp đó lại là yếu tố tạo sự hấp dẫn trong tình yêu, nó như một thứ gia vị làm cho tình yêu thêm nồng nàn.

“Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.”

      Ở hai câu sau, tác giả đã phát hiện ra quy luật của sóng đó là sóng đi từ sông ra bể và đây là quy luật của tự nhiên: “Trong sông đổ một biển sâu” ( Tố Hữu). Tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa để nhấn mạnh việc sóng đi từ sống ra bể là có nguyên nhân của nó. Đi từ sông ra bể là một hành trình tìm kiếm hạnh phúc của sóng để đi tìm giá trị đích thực của bản thân. Sóng đi từ sông ra bể để tìm đến không gian rộng lớn hơn. Đó chính là khát vọng của sóng, sóng khát khao hướng tới những điều tốt đẹp. Câu thơ “Sóng tìm ra tận bể” thể hiện rất rõ thái độ mạnh mẽ, dứt khoát, quyết tâm của sóng trong hành trình tự khẳng định chính mình. Khắc họa khát vọng của sóng cũng chính là ẩn dụ cho khát vọng của người phụ nữ khi yêu. Người phụ nữ khi yêu cũng khát khao hướng tới tình cảm rộng lớn, bao dung, độ lượng, vị tha. Đây là khát vọng chân chính của người phụ nữ khi yêu, bởi chỉ có đến với những tình yêu vị tha, bao dung, độ lượng thì tình cảm của người phụ nữ mới được trân trọng, mới được tìm thấy trong hạnh phúc đích thực. Cũng như sóng, người phụ nữ cũng có một thái độ mạnh mẽ, dứt khoát trong tình yêu. Họ sẵn sàng từ bỏ thứ tình cảm tầm thường, ích kỷ để đến với một tình cảm trong sáng, cao thượng. Đây là vẻ đẹp có tính hiện đại của người phụ nữ.

Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày nay vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

       Ở khổ thơ này, nhà thơ khắc họa trạng thái bất biến của sóng. Sóng kết hợp với các từ chỉ thời gian: ngày xưa, ngày nay nói lên rằng song không hề thay đổi với thời gian. Từ “vẫn thế” khẳng định tính chất không thay đổi, khẳng định sự bất biến của sóng trước thời gian. Khẳng định tính bất biến của thời gian cũng chính là khẳng định tình yêu bất biến ở con người. Từ xa xưa con người đã biết đến tình yêu nên đến bây giờ người ta vẫn khao khát có hai chữ “tình yêu”. Bất cứ thời đại nào cũng có những câu chuyện tình yêu thật lãng mạn. Từ láy “bồi hồi” nói lên cảm xúc xao xuyến, rạo rực của con người khi đến với tình yêu, nhát là đối với trái tim tuổi trẻ.

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được”

       Nhà thơ lại tiếp tục phát hiện ra đặc điểm của sóng đó là sóng luôn chuyển động, không một phút giây ngừng nghỉ, sóng luôn vỡ vào bờ. Nhà thơ đã khéo léo sử dụng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa cho hình ảnh sóng vỗ bờ thành “sóng nhớ bờ” để con sóng trở nên có tâm trạng hơn. Nỗi nhờ bờ của sóng được khắc họa một cách ấn tượng. Cặp câu đối xứng với hình ảnh con sóng “dưới lòng sâu” và “trên mặt nước” nói lên rằng dù trong bất kì không gian nào thì sóng vẫn nhớ bờ, bao trùm mọi không gian bởi nỗi nhớ.  Từ “ngày đêm” thể hiện nỗi nhớ bao trùm thời gian, còn “không ngủ được” là trạng thái thao thức, bồn chồn, khắc khoải của sóng. Nỗi nhớ bờ của sóng thật da diết. Từ cảm than “ôi” làm cho nỗi nhớ càng trở nên da diết, tha thiết. Khắc họa nỗi nhớ bờ của sóng cũng chính là khắc họa nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu. “Nhớ” là một trạng thái tình cảm đặc trưng của người phụ nữ khi yêu, chính vì thế mà thơ ca đã nhắc nhiều đến nỗi nhớ, ví dụ như trong bài thơ “Tương tư chiều” của Xuân Diệu có câu:

“ Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh,

Anh nhớ em, anh nhớ lắm ! Em ơi !”

      Qua nỗi nhớ bờ của sóng, nỗi nhớ tình yêu trở nên bồn chồn, khắc khoải, cồn cào. Phát hiện ra nỗi nhớ bờ của sóng là một phát hiện tinh tế của Xuân Quỳnh về sóng, cho ta nhận ra một điều: vì sóng luôn nhớ bờ nên biển luôn dao động không một phút nguôi ngoai.

“Ở ngoài kia đại dương

Trăm ngàn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở”

     Ở khổ thơ này, tác giả phát hiện ra sóng luôn có hướng chuyển động, từ ngoài xa đại dương vào bờ và con sóng nào cũng tới bờ. “Ở ngoài kia đại dương” là vị trí không gian của sóng ở rất xa so với bờ. “Trăm ngàn” là một từ ước lệ chỉ tất cả các con sóng ngoài đại dương. Sóng có một niềm tin rất mãnh liệt, một niềm tin tuyệt đối đó là luôn tới được bờ, sóng còn có quyết tâm để đến được với bờ. Thái độ tin tưởng của sóng khi đến được với bờ cũng chính là ẩn dụ cho sự tin tưởng của người phụ nữ trong tình yêu, tin tưởng tình yêu của mình sẽ đến được với bến bờ hạnh phúc.

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

      Ở khổ thơ cuối, tác giả lại tiếp tục phát hiện ra giữa đại dương mênh mông có trăm ngàn con sóng nhỏ, trăm ngàn con sóng đó luôn tồn tại trong lòng đại dương. Khát khao được tan ra thành trăm con sóng nhỏ để được sống giữa bể lớn tình yêu, đây là khát vọng hết sức mãnh liệt và cháy bỏng. Người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh khát khao hướng tới tình yêu thủy chung, trọn vẹn, vĩnh hằng. Tuy khát vọng hạnh phúc, khát vọng hướng tới tình yêu vĩnh hằng trong thơ Xuân Quỳnh là mãnh liệt nhưng ta vẫn thấy có một thoáng lo âu. Đây mới chỉ là điều con người khát khao hướng tới chứ chưa phải là hiện thực. Trong thực tế, giữa những điều mong ước với hiện thực là một khoảng cách quá xa vời. Cái băn khoăn, lo lắng  đó cũng chính là sự nhạy cảm trong trái tim tình yêu của người phụ nữ trong thơ ca.

       Qua bài thơ ta thấy được “sóng” và “em” là hai hình tượng tồn tại song song đan vào nhau. Nhưng có lúc “em” và “sóng” hòa vào nhau là một. Xuân Quỳnh khắc họa cả hai hình tượng này để biểu đạt cho vẻ đẹp tình yêu của người phụ nữ. Hai tình tượng này bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để tạo sự giao thoa, cộng hưởng về mặt cảm xúc.

>>> Xem thêm:

Check Also

phân tích nhân vật vợ nhặt trong tác phẩm vợ nhặt

Phân tích tình huống độc đáo trong truyện Vợ nhặt | Làm văn mẫu

( Văn mẫu lớp 12) Đề bài: Em hãy phân tích tình huống truyện độc …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *