Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ | Làm văn mẫu

Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ | Làm văn mẫu

( Văn mẫu lớp 12)

Đề bài: Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

( bài làm của Nguyễn Khánh Huyền)

Bài làm:

        Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu nền văn học hiện đại Việt Nam, là nhà văn có biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của những miền đất mà ông đã đi qua. Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” được in trong tập truyện Tây Bắc 1952, đây là một truyện ngắn đậm chất thơ. Ngôn ngữ và lời văn rất giàu tạo hình và gợi cảm. Truyện cũng thể hiện tài năng sắc sảo của Tô Hoài trong nghệ thuật, xây dựng đối thoại và miêu tả nội tâm nhân vật.

        Truyện gồm hai phần: phần đầu viết về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, phần sau viết về cuộc sống nên vợ nên chồng, tham gia cách mạng của Mị và A Phủ ở Phiềng Sa. Đoạn trích trong SGK là phần một của truyện.

         Mị là nhân vật trung tâm của câu chuyện. Mị là một cô gái có đời sống tâm hồn phong phú và phẩm chất tốt đẹp. Mị chính là bông hoa ban thanh khiết của miền Tây Bắc. Vẻ đẹp con người Mị hứa hẹn mang lại cho Mị một tương lai đầy hạnh phúc. Tuy nhiên, trái với vẻ đẹp ấy, Mị phải chịu số phận vô cùng bất hạnh, đó chính là bị bắt về làm dâu nhà Thống Lý. Cha mẹ Mị vay tiền Thống Lý làm đám cưới và phải trả mỗi năm một nương ngô. Mẹ Mị đã mất nhưng nợ vẫn chưa trả hết. Thống Lý tuyên bố: “Cho tao đứa con gái… tao xóa hết nợ”, Mị biến thành hàng hóa để trao đổi, Mị phải chấp nhận một cuộc sống hôn nhân không tình yêu, không hạnh phúc. Trong Mị, ý niệm về thời gian không còn, ý nghĩa về sự sống cũng bị thủ tiêu. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen rồi. Nỗi đau khổ đã đáng sợ nhưng còn nhận thức được nỗi khổ của mình tức là con người ta vẫn còn cảm xúc. Mị đã không còn nghĩ đến việc tự tử nữa. Điều này tương đương với việc cô đã trải đến tận cùng của nỗi đau xót rồi, dù có vùng vẫy hay quẫy đạp nữa thì cũng không thể nào thoát ra được nên cô buông xuôi tất cả.

        Và mọi thứ cứ thế trôi đi, tới một ngày – khi đêm tình mùa Xuân tới. Trong suốt quãng thời gian của một năm, những ngày cuối năm hay đầu xuân thường là những ngày khơi gợi trong lòng ta nhiều cảm xúc nhất, đặc biệt là đối với những người xa xứ. Mị sống trong nhà chồng nhưng trước nay cô chưa bao giờ có thể coi nơi ấy là nhà mình cả mà đối với cô, nơi đó chẳng khác gì địa ngục. Ở đó, Mị chỉ là một thứ nô lệ không mất tiền, bị hành hạ cả về thể xác và tinh thần. Mị trơ lì, lãnh đạm, “lùi lũi như con rùa trong xó cửa”. Nhưng vào những đêm mùa Xuân, cô không thể tránh khỏi những cảm xúc. Giờ đây, những âm thanh của cuộc sống trong đêm tình mùa Xuân mới có cơ hội được tâm hồn Mị để ý tới. Nghe tiếng sáo, Mị cảm thấy bồi hồi, xao xuyến. Tiếng sáo dìu dắt những kí ức và ước mơ của một thời tự do, khát khao hạnh phúc. Tô Hoài thật sắc xảo khi khám phá và phát hiện một cách tinh tế sự thay đổi đầu tiên trong tâm hồn của người con gái bất hạnh này. Tiếng sáo gợi về kí ức. Kí ức đối lập với hiện tại tối tăm. Vì thế mà nó gợi nỗi buồn trong tâm hồn Mị. Mị lén lấy hũ rượu và uống ực từng bát, Mị muốn quên đi cảnh đời tăm tối, tủi cực và bất hạnh của mình, đây hoàn toàn là hành động có ý thức. Chính bởi vậy, cách uống rượu của Mị cũng rất lạ “uống ực”, Mị muốn nuốt những cay đắng, tủi cực vào trong lòng. Mặc những gì đang diễn ra, Mị chìm vào kí ức của mình thời xưa. Mị nhớ rằng mình đã từng rất thích thổi sáo và đã có biết bao chàng trai mê đắm, ngày đêm thổi sáo theo Mị. Hiện tại thật đối lập với quá khứ tươi đẹp. Nó thúc đẩy Mị đi theo tiếng gọi của kí ức để trở lại cuộc đời tươi đẹp ấy. Và Mị cũng muốn đi chơi. Mị không quan tâm tới thái độ ngạc nhiên của A Sử khi thấy ý định đi chơi của Mị. Hành động của Mị chứng tỏ Mị đang thoát ra khỏi thực tại, Mị làm tất cả việc đó như có một sức mạnh tiềm tàng, mãnh liệt ẩn chứa bên trong con người cô. Người phụ nữ này khi sức sống chưa trỗi dậy từng thấy mình giống như kiếp trâu ngựa, giống con rùa đằng sau xó cửa. Giờ đây lại nhận ra mình còn trẻ lắm.

       Có thể nói, tình thương cùng sự đồng cảm giai cấp, niềm khát khao tự do mãnh liệt đã thôi thúc Mị cắt dây trói cứu A Phủ và tự giải thoát cho cuộc đời mình. Đó là hiệu quả tất yếu logic ở Mị. Từ đêm tình mùa Xuân đến đêm mùa Đông cởi trói cho A Phủ là một cuộc hành trình tìm lại chính mình, tự giải thoát mình khỏi cường quyền và thần quyền của Mị.

       Nhân vật A Phủ mang đặc điểm của những chàng trai mồ côi trong truyện cổ dân gian: cường tráng, mạnh mẽ, gan góc, yêu tự do và trọng công lý.  Năm mười tuổi, A Phủ mồ côi, bị bán. Thấy A Sử cậy quyền thế nhà giàu áp bức người, A Phủ liền xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo và đánh tới tấp. Hậu quả là A Phủ bị nhà Pá Tra bắt về xử trận đòn nhừ tử và cho làm người ở. A Phủ lỡ làm mất con bò nhà thống lý và bị trói đứng vào cột, nhưng đêm đến, A Phủ đã nhau đứt hai vòng dây. Điều này chứng tỏ ở A Phủ luôn tiềm tàng sức mạnh phản khác mãnh liệt. A Phủ cũng bị “nô lệ hóa”, bị thủ tiêu ý chí phản kháng. Sau lời phán xử vô lý, A Phủ bị đánh đập mấy ngày đêm, thân thể bầm dập, A Phủ tập tễnh đi giết lợn đãi những kẻ vừa tra tấn mình, tự đóng cọc gỗ xuống bên cột và lấy cuộn dây mây cho Pá Tra trói mình. Các chi tiết này là minh chứng hùng hồn tố cáo tội ác của các thế lực phong kiến miền núi trong xã hội cũ.

       Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Tô Hoài có nhiều đặc sắc. Nhân vật A Phủ được miêu tả chủ yếu qua những hành động, còn Mị được thể hiện qua dòng tâm tư và quá trình tâm lý. Cách trần thuật uyển chuyển, linh hoạt; cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự nhiên mà ấn tượng; cách kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo. Bên cạnh đó, Tô Hoài còn có biệt tài miêu tả thiên nhiên và phong tục, tập quán của người dân miền núi. Đó là cảnh thiên nhiên mơ mộng được miêu tả bằng ngôn ngữ giàu chất thơ và chất tạo hình; ngôn ngữ sinh động, chọn lọc và sáng tạo; câu văn giàu tính tạo hình và thấm đẫm chất thơ… Đó là những yếu tố làm nên tài năng trong nghệ thuật văn xuôi của Tô Hoài.

        Truyện “Vợ chồng A Phủ” đặt ra vấn đề về số phận con người ở vùng núi Tây Bắc – những con người bị tước đoạt hết tài sản, bị bóc lột sức lao động và bị xúc phạm nặng nề về nhân phẩm. Giải quyết vấn đề về số phận con người, Tô Hoài đã thể hiện sự cảm thông với những nỗi thống khổ của họ, đồng thời trân trọng khát vọng sống mãnh liệt để làm rõ đấu tranh giải phóng, cũng là quá trình đến với cách mạng và kháng chiến từ tự phát tới tự giác của họ.

>>> Xem thêm:

Check Also

phân tích nhân vật vợ nhặt trong tác phẩm vợ nhặt

Phân tích tình huống độc đáo trong truyện Vợ nhặt | Làm văn mẫu

( Văn mẫu lớp 12) Đề bài: Em hãy phân tích tình huống truyện độc …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *