Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân tích tâm trạng của Hồ Xuân Hương trong Tự tình 2 | Làm văn mẫu

Phân tích tâm trạng của Hồ Xuân Hương trong Tự tình 2 | Làm văn mẫu

( Văn mẫu lớp 11)

Đề bài: Phân tích tâm trạng của Hồ Xuân Hương trong Tự tình 2 

( bài làm của Nguyễn Khánh Huyền)

Bài làm:

        Hồ Xuân Hương là một hình ảnh đặc biệt trong thi văn Việt Nam trung đại. Có lẽ, hơn bất kì một nhà thơ nào khác, độc giả khi đến với Hồ Xuân Hương đều cảm nhận một cách sâu sắc thế giới tâm hồn của người phụ nữ làm thơ trong xã hội phong kiến nhiều bất công. Chính vì vậy nên tuy chủ đề phong phú nhưng thơ Hồ Xuân Hương luôn chứa đựng một cảm hứng hết sức nhân văn: tinh thần yêu thương, trân trọng người phụ nữ, tâm hồn nồng nhiệt với cuộc sống và thái độ phủ định quyết liệt thế lực thống trị tinh thần ( đạo đức, lễ giáo phong kiến) và thế lực thống trị xã hội ( vua chúa, quan lại, tăng lữ, nam giới). Bài thơ “Tự tình” là nỗi niềm buồn thảm hại của Hồ Xuân Hương trước duyên phận hẩm hiu, nhiều mất mát, trước lẽ đời đầy nghịch cảnh, éo le là sự vươn dậy của chính bản thân, thách đố lại duyên phận, không cam chịu trước số phận.

         Trước hết, ta đi vào tìm hiểu nhan đề của bài thơ “Tự tình” để làm rõ tâm trạng của Hồ Xuân Hương. Tự tình ở đây là tình cảm tự bộc lộ ra, đó chính là tâm trạng bộc bạch của chính người trong cuộc, đó là tiếng nói của tâm hồn, tiếng nói của con tim khao khát hạnh phúc đến cháy bỏng, là tiếng nói phẫn uất đau đớn,… Bên cạnh những căm phẫn, phẫn nộ đối với chế độ phong kiến thối nát đương thời, thơ Hồ Xuân Hương còn hiện lên tâm trạng khát khao hạnh phúc, muốn bộc lộ cái tôi của chính mình. Cái tôi đó có lúc khao khát mãnh liệt nhưng cũng có lúc cô đơn, uất hận, xót xa, chơi vơi giữa dòng đời.

“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

Oán hận trông ra khắp mọi chòm.”

       Giữa mênh mông đêm tối, vắng lặng bỗng có tiếng gà gáy văng vẳng từ trên bom vọng lại. Tác giả đã sử dụng thủ pháp lấy động gợi tĩnh, láy cái hạn hữu gợi cái vô hạn, âm thanh văng vẳng của tiếng gà vọng đến từ xa như vừa tan biến vào khoảng không gian vắng lặng, rộng lớn. Hoàn cảnh thời gian và không gian đó có tác dụng làm nổi bật tâm trạng nhân vật trữ tình, hay sâu xa hơn là tâm trạng của Hồ Xuân Hương. Trong những đêm khuya thanh vắng hay lúc tàn canh, con người thường nghĩ về mình nhiều hơn.

        Lẽ thường mõ có khua mới cốc, chuông có đánh mới om, nhưng ở đây:

“Mõ thảm không khua mà cũng cốc

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om”

        Bởi vì cái thảm, cái u sầu ở đây cứ ngày một dâng lên trong lòng nhân vật dù chẳng có duyên cớ nào. Cái thảm được hình tượng hóa, kết tụ thành mõ thảm. Câu thơ nghe thì có vẻ nghịch lý nhưng nó diễn tả sấu sắc sự oái oăm, nghịch cảnh của duyên phận, khắc họa nỗi đau dường như không có duyên cớ mà thật bi thảm, buồn rầu.

       Cái không duyên cớ ở câu thực được nói rõ lý do trong hai câu luận. Thật đáng buồn và giận biết bao miệng lưỡi nhân gian:

“Trước nghe những tiếng sau rầm rĩ

Sau giận vì duyên để mõm mòn”

        Những tiếng đàm tiếu đơn sai, chẳng ra đâu vào đâu nhưng nỗi buồn phiền cứ dồn dập ập đến. Một người có bản lĩnh như Hồ Xuân Hương làm sao tránh khỏi miệng lưỡi người đời. Con đường duyên phận của nhà thơ đi giữa chông gai của miệng thiên hạ làm sao tránh khỏi éo le, may rủi. Cái giận sau có nguyên nhân từ nỗi đau trước. Duyên mõm mòn tức là duyên dã già, chỉ tình duyên của những người đã quá tuổi, lỡ thì. Duyên mõm mòn vận vào cuộc đời Hồ Xuân Hương. Tình duyên vỡ lở khi trẻ, phận hẩm duyên ôi khi đã già, muộn màng lắm mới lấy được chồng và dường như đều làm lẽ, góa bụa. Nhà thơ dùng từ “mõm mòn” ở đây là để chỉ duyên phận vừa thể hiện sự phẫn uất, vừa bộc lộ niềm chua chát của Xuân Hương.

        Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú đường luật rất quy phạm, viết theo luật bằng, vần bằng. Bên cạnh đó, trong sự gò bó, ngòi bút của Hồ Xuân Hương vẫn rất tự do phóng khoáng, thể hiện bản ngã độc đáo của nhà thơ. Cả bài thơ không có một điển tích, điển cố nào. Những từ gốc Hán đều đã được Việt hóa. Độc đáo hơn cả vẫn là cách sử dụng vần và cách gieo vần. Cả năm vần chính, có vần gốc là “om” mang thanh điệu gợi sự lan tỏa, ngân vang, đột ngột nổi lên những vần trắc như cốc, rầu rĩ,… gợi sự chao chát, khô khan, như mũi kim chọc sâu vào nỗi đau, nỗi thảm.

        Xuân Diệu đã từng gọi Hồ Xuân Hương là “bà chúa thơ Nôm”. Xuân Hương trước hết là nhà thơ của con người. Đặt trong bối cảnh xã hội phong kiến đương thời, Xuân Hương đã dám bộc lộ chính kiến của mình về vẻ đẹp con người, vẻ đẹp của người phụ nữ; khẳng định những khát khao chính đáng của con người. Bên cạnh đó, nhà thơ phê phán những thói giả tạo, khuôn sáo, gò ép.

>>> Xem thêm:

Check Also

phân tích nhân vật vợ nhặt trong tác phẩm vợ nhặt

Phân tích tình huống độc đáo trong truyện Vợ nhặt | Làm văn mẫu

( Văn mẫu lớp 12) Đề bài: Em hãy phân tích tình huống truyện độc …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *