Home / BÀI VĂN HAY / Thuyết minh về chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của dân tộc ta | Văn mẫu

Thuyết minh về chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của dân tộc ta | Văn mẫu

( Văn mẫu lớp 12)

Đề bài: Em hãy thuyết minh về chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của dân tộc ta 

( bài làm của bạn Nguyễn Khánh Huyền)

Bài làm:

       Hồ Chí Minh  (19/ 5/1890 – 2/9/1969), tên khai sinh: Nguyễn Sinh Cung. HCM là nhà cách mạng, là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, là một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ XX, một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Ông là người viết và đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian 1945 – 1969, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong thời gian 1951 – 1969. Ông là lãnh tụ được nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng, lăng của ông được xây ở Hà Nội, nhiều tượng đài của ông được đặt ở khắp mọi miền Việt Nam, hình ảnh của ông được nhiều người dân treo trong nhà, đặt trên bàn thờ và được in ở hầu hết mệnh giá đồng tiền Việt Nam. Ông được thờ cúng ở một số đền thờ và chùa Việt Nam. HCM  đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ và nhà báo với nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Pháp. Ông được tạp chí Time bình chọn là 1 trong 100 người có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX.

      Về tuổi trẻ của Hồ Chí Minh, năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng cha mẹ và anh trai vào Huế lần đầu tiên. Sau khi mẹ mất (1901), ông về Nghệ An ở với bà ngoại một thời gian ngắn rồi theo cha về quê nội, từ đây ông bắt đầu dùng tên Nguyễn Tất Thành. Tất Thành theo học cử nhân Hoàng Phạm Quỳnh và một số thầy giáo khác. Năm 1906, Nguyễn Sinh Cung theo cha vào Huế lần thứ hai và học ở trường tiểu học Pháp -Việt Đông Ba. Tại đây, ông trải qua các niên khoá 1906 – 1907 lớp nhì và 1907 – 1908 lớp nhất. Trong kỳ thi tốt nghiệp tiểu học năm 1908 – ông là một trong 10 học trò giỏi nhất của trường Pháp – Việt Đông Ba được thi vượt cấp vào hệ Thành chung trường Quốc Học. Theo nghiên cứu của học giả William J. Duiker, vào tháng 9 năm 1907, Nguyễn Sinh Cung vào học lớp trung học đệ nhị niên tại trường Quốc học Huế, nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5 năm 1908 vì tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Cha ông bị triều đình khiển trách vì "hành vi của hai con trai". Hai anh em Tất Đạt và Tất Thành bị giám sát chặt chẽ. Ông quyết định vào miền Nam để tránh sự kiểm soát của triều đình. Tuy nhiên, theo tài liệu hiện lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại ở Pháp, Nguyễn Sinh Cung và được nhận vào Quốc học Huế vào ngày 7 tháng 8 năm 1908. Theo nhà nghiên cứu lịch sử Vũ Ngự Chiêu thì "không có việc Nguyễn Sinh Cung bị trục xuất khỏi trường Quốc học vì tham gia vào cuộc biểu tình chống sưu thuế ở Huế – cuộc biểu tình chống sưu dịch xảy ra ngày 9 tới 12 tháng 4 năm 1908; tức gần 4 tháng trước ngày trò Cung được nhận vào trường Quốc học." Đầu năm 1910, Nguyễn Tất Thành đến Phan Thiết. Ông dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh của Hội Liên Thành. Trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành thường gặp gỡ một số nhà nho yêu nước đương thời, tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc và có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Ông tuy khâm phục Đề Thám, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào cả. Theo quan điểm của ông, Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách, điều đó chẳng khác nào "xin giặc rủ lòng thương", còn Phan Bội Châu thì hy vọng Đế quốc Nhật Bản giúp đỡ để chống Pháp, điều đó nguy hiểm chẳng khác nào "đuổi hổ cửa trước, rước báo cửa sau". Nguyễn Tất Thành thấy rõ là cần quyết định con đường đi của riêng mình. Khoảng trước tháng 2 năm 1911, ông nghỉ dạy và vào Sài Gòn cũng với sự giúp đỡ của Hội Liên Thành. Tại đây, Nguyễn Tất Thành theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son (bây giờ là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng), vừa đi bán báo ở khu vực thương cảng để kiếm sống và đồng thời tìm hiểu đời sống công nhân. Ở đây, ông học được 3 tháng. Sau đó ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài học hỏi tinh hoa của phương Tây để trở về giúp nhân dân Việt Nam.

        Về sự nghiệp văn học, trước hết là quan điểm sáng tác, Người coi văn học là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Nhà văn cũng phải có tinh thần xung phong như người chiến sĩ ngoài mặt trận. Quan điểm này được thể hiện qua hai văn bản “ Cảm tưởng đọc Thiên gia nhĩ”  và “ Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951”. Bên cạnh đó, Người còn chú trọng vào tính chân thật và tính dân tộc trong quan điểm sáng tác của mình. Người yêu cầu một tác phẩm phải phát huy, giữ gìn và đề cao truyền thống dân tộc; Người yêu cầu một tác phẩm phải giảm độ mơ mộng, miêu tả cho hay, giữ tính chất chân thật. HCM là người có quan điểm hết sức rõ ràng, cụ thể, các sáng tác của Người là sự thể hiện triệt để các quan điểm sáng tác mới. Những quan điểm sáng tác ấy còn trở thành đường lối, chính sách của Đảng để lãnh đạo với nhân dân. Tiếp theo là về phong cách nghệ thuật, hai đặc điểm cơ bản trong phong cách nghệ thuật của HCM đó là phong cách nghệ thuật đa dạng và phong cách nghệ thuật thống nhất. Tại sao nói phong cách nghệ thuật của HCM đa dạng? Bởi vì Người sáng tác trên nhiều thể loại, mỗi thể loại lại có phong cách riêng và độc đáo riêng. Phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của HCM thường ngắn gọn, súc tích; lập luận chặt chẽ và lý lẽ đanh thép; bằng chứng thuyết phục; giàu tính luận chiến,… Phong cách nghệ thuật trong truyện và kí của HCM thường hiện đại, mang tính chiến đấu mạnh mẽ; đa dạng về bút pháp; thấm đượm tình cảm; nghệ thuật trào phúng sắc bén; giọng văn đa dạng,… Phong cách nghệ thuật trong thơ của HCM, về thơ tuyên truyền thường giản dị, mộc mạc, màu sắc thanh đạm, âm thanh trầm lặng, nói ít gợi nhiều,… Thơ nghệ thuật thì thấm đượm phong vị Á Đông. Về phong cách nghệ thuật thống nhất, tác phẩm của HCM mang tính ngắn gọn, súc tích, sử dụng linh hoạt bút pháp nghệ thuật, kết hợp giữa văn học và chính trị, giữa cổ điển và hiện đại.

      Hồ Chí Minh vừa là vị lãnh đạo đáng kính của dân tộc lại vừa là một nhà thơ, nhà văn có những tác phẩm xuất sắc để đời. Mỗi người chúng ta hãy noi gương Bác Hồ để học tập và rèn luyện, hãy sống và làm việc theo tư tưởng và đạo đức của Hồ Chí Minh.

>>> Xem thêm:

Check Also

nghị luận xã hội về an toàn giao thông

Nghị luận xã hội về An toàn giao thông | Làm văn mẫu

( Bài văn hay lớp 12) Đề bài: Nghị luận xã hội về an toàn …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *